Nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng thành công men đa vi sinh thủy phân cá loại thải làm phân bón

Nhằm đáp ứng xu hướng nhu cầu của phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ, sử dụng hiệu quả phụ phế phẩm trong nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản, góp phầm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nhóm nghiên cứu của TS. Nguyễn Thị Hiền Trang và cộng sự Trường Đại học Nông Lâm Huế nghiên cứu thành công “Quy trình sản xuất men đa vi sinh thủy phân cá phế thải làm phân bón cho cây trồng”. Giải pháp sáng tạo kỹ thuật này đã đoạt giải Ba tại Hội thi sáng tạo tỉnh Thừa Thiên Huế lần thứ VIII, năm 2017.

Theo nhóm tác giả cho biết: Việc sử dụng phân bón hóa học trong sản xuất nông nghiệp hiện nay đã làm cho đất canh tác ngày càng thoái hóa, dinh dưỡng mất cân đối, ảnh hưởng đến cân bằng sinh thái và đặc biệt là hệ vi sinh vật trong đất bị phá hủy; tồn dư các chất độc hại trong đất ngày càng cao và các nguồn bệnh hại tích lũy trong đất ngày càng nhiều và khó kiểm soát. Xu hướng quay trở lại nền nông nghiệp hữu cơ với việc tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học, phân bón hữu cơ trong canh tác cây trồng đang là vấn đề quan tâm hàng đầu của Việt Nam và các nước khác. Ở nước ta, hệ thống sông ngòi dày đặc và đường bờ biển dài 3.200 km rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng, đánh bắt và chế biến các sản phẩm thủy hải sản. Bên cạnh những sản phẩm chính của ngành chế biến thủy hải sản, một lượng lớn nguyên liệu loại thải và phụ phế phẩm cần được xử lý để tăng giá trị kinh tế và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Trước thực tế đó, giải pháp sử dụng chế phẩm vi sinh từ các vi sinh vật có ích và xây dựng “Quy trình sản xuất men đa vi sinh thủy phân cá phế thải làm phân bón cho cây trồng” là hết sức quan trọng.

Chế phẩm men đa  vi sinh được phối trộn giữa  các chủng Trichoderma longibrachiatum H18 (T. longibrachiatum H18), Aspergillus oryzae N2 (A. oryzae N2) và Lactobacillus plantarum T5 (L. plantarum T5) để tạo chế phẩm men đa vi sinh có hoạt tính protease cao. Trong đó, vai trò của T. longibrachiatum H18, A. oryzae N2 là sản sinh enzyme protease cao nhằm thủy phân protein. Còn chủng L. plantarum T5 có khả năng sản sinh acid lactic nhằm ức chế vi khuẩn gây thối. Qua nghiên cứu, ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn giữa 3 chủng vi sinh vật, cho thấy tỷ lệ cho mỗi loại trong men đa vi sinh đối với T. longibrachiatum H18, A. oryzae N2 là 0,3% và L. plantarum T5 là 0,5%.

TS. Hiền Trang cho biết thêm, để sản xuất men đa vi sinh thủy phân cá phế thải làm phân bón cho cây trồng cần thực hiện 2 công đoạn. Công đoạn thứ nhất là tạo chế phẩm men đa vi sinh, sau đó sử dụng chế phẩm men đa vi sinh này để  thủy phân cá phế thải, các phụ phẩm khác làm phân bón và bón cho cây trồng.

Quy trình công nghệ sản xuất chế phẩm men đa vi: Nguyên liệu sử dụng cho quá trình nuôi cấy men đa vi sinh là 74% cám, 20% trấu và 6% bột mì trong tổng khối lượng môi trường nuôi cấy. Môi trường bán rắn được làm ẩm đến độ ẩm 55% nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sinh trưởng và phát triển. Sau khi chuẩn bị môi trường, tiến hành tiệt trùng ở 1210C trong 15 phút để tiêu diệt các vi sinh vật nhiễm vào môi trường nuôi cấy. Để nguội môi trường và bổ sung 0,3% sinh khối T. longibrachiatum H18 và A. oryzae T2, trộn đều trước khi rải mỏng ra khay với bề dày lớp môi trường từ 2 - 3cm. Quá trình nuôi cấy được thực hiện trong phòng kín ở nhiệt độ khoảng 30 - 320C. Sau 3 ngày thu nhận chế phẩm thô để tiếp tục bổ sung 0,5% sinh khối vi khuẩn L. plantarum T5 và nuôi cấy thêm 1 ngày. Thu nhận chế phẩm, sấy, nghiền mịn, bao gói bằng túi nylon và bảo quản ở 40C để sử dụng cho quá trình thủy phân cá.

Sơ đồ quy trình sản xuất men đa vi sinh thủy phân cá loại thải

Quy trình sử dụng men đa vi sinh thủy phân cá phế thải làm phân bón:

 

Sơ đồ quy trình sử dụng men đa vi sinh thủy phân cá phế thải

Phối trộn nguyện liệu: Cá sau khi mua không cần rửa hay phân loại, tiến hành cân để xác định khối lượng ban đầu của cá được đưa vào ủ. Lượng men đa vi sinh cho vào chiếm 4% khối lượng cá ban đầu. Tiến hành rải 1 lớp chế phẩm, 1 lớp cá và các chất mang để các lớp cá luôn có 2 mặt tiếp xúc với chế phẩm và lớp trên cùng là lớp chế phẩm.

Đậy nắp: Đậy kín nắp và lấy dây cao su buộc kín miệng giữa nắp và dụng cụ chứa đựng, để ngoài nắng để quá trình thủy phân xảy ra nhanh hơn.

Lên men: Sau khi đậy kín nắp, đặt ở vị trí có nhiều ánh sáng mặt trời nhằm thúc đẩy quá trình thủy phân. Trong quá trình lên men được 2 tuần có thể mở nắp để đánh đều sau đó đậy kín nắp lại. Thời gian lên men 4-5 tuần tùy theo mùa trong năm.

Thu dịch thủy phân: Sau thời gian lên men 4-5 tuần, tiến hành mở nắp lấy dịch và tùy vào lượng sử dụng có thể lấy dịch, lọc nhiều lần để sử dụng. Hỗn hợp sau khi thủy phân được lọc bằng vải lọc hoặc rút dịch (với dụng cụ có vòi) cho vào dụng cụ chứa. Phần xác cá có thể cho trở lại thùng lên men hoặc ủ làm phân bón cho đất.

Sử dụng bón cho cây trồng: Dịch thủy phân có hàm lượng cao, để dùng phun lên lá cho cây trồng có thể pha loãng với tỷ lệ: 0,5 lít dịch thủy phân cho 200lit nước. Sản phẩm thích hợp cho các loại cây trồng như hồ tiêu, cà phê, cây ăn trái hoặc các loại rau ăn lá. Ngoài ra, sản phẩm còn có thể dử dụng để hòa trộn với nước để tưới gốc cho cây trồng.

Chế phẩm men đa vi sinh có khả năng ứng dụng cao trong việc sử dụng như một loại phân bón sinh học, có tác dụng trong việc tăng sức tăng trưởng chiều cao gốc cây và tốc độ tăng trưởng của cành quả. Chế phẩm men đa vi sinh có thể ứng dụng ở quy mô nhỏ hộ gia đình hoặc quy mô sản xuất lớn ở các công ty, trang trại. Do đó cần sớm được chuyển giao ứng dụng rộng rãi, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp một cách bền vững.  

Hồ Thành

Người cập nhật: Hồ Thành
Các bài viết khác:
 

Hổ trợ trực tuyến

Liên Kết Website

Lượt truy cập: 3545112
Đang trực tuyến: 32