The ICM Asia Pacific Regional Conference 2012
18/10/2018

Khoáng chất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế

Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế các khoáng chất công nghiệp như than bùn, cát thuỷ tinh, kaolin, có tiềm năng khá lớn, là những loại khoáng sản có lợi thế của tỉnh, cần được quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Tiềm năng  khoáng sản có lợi thế của tỉnh, cần được quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng hợp lý

Pyrit (FeS2) là dạng hợp chất phổ biến nhất của lưu huỳnh, được sử dụng rộng rãi để sản xuất axit sulfuric, phân khoáng và trong nhiều ngành công nghiệp khác. Trên lãnh thổ Thừa Thiên Huế có ba mỏ pyrit gồm: Bản Gôn, La Vân, Hương Phú và các điểm quặng: Hương Hữu, Ma Ray, Nông Trường Nam Đông, Khe Tre, Khe Trường, A Xiêm, Ke Đe, Thường Nhật, A Ka, Ka Đau, Cha Măng. Kết quả khảo sát, đánh giá, thăm dò cho thấy quặng pyrit công nghiệp tập trung xung quanh khu vực Bản Gôn, ở các nơi khác ít có triển vọng.

Than bùn là nguyên liệu không thể thiếu được để sản xuất phân bón hoặc chiết tách acit humic làm chất kích thích tăng trưởng. Các sản phẩm từ than bùn đang ngày được sử dụng rộng rãi trong trồng trọt và chăn nuôi, mang lại hiệu quả cao. Nước ta có trữ lượng than bùn khoảng một tỷ tấn, phân bố ở nhiều nơi, trong đó than bùn ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế có chất lượng tốt. Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế các mỏ than bùn hầu hết phân bố ở huyện Phong Điền, phía tây nam Phá Tam Giang gồm: Trầm Bàu, Phong Nguyên, Phong Chương, Bách Thạnh….

Cát thuỷ tinh có độ hạt nhỏ đều, sạch (hàm lượng SiO2 >99%, Fe2O3<0,3%, các oxit TiO2, Al2O3, Cr2O3 đều <0,1%) được sử dụng để sản xuất sản phẩm thuỷ tinh cao cấp và men frit trong công nghiệp sứ gốm. Chỉ tính riêng trong lĩnh vực sứ gốm, trung bình 1m2 gạch cần khoảng một kg men. Ở nước ta, loại cát thuỷ tinh đạt tiêu chuẩn trên không nhiều, phân bố chủ yếu ở miền trung, trong đó Thừa Thiên Huế và Quảng Bình có quy mô lớn hơn cả. Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, cát thuỷ tinh được phát hiện nhiều nơi như Phú Xuân, Quảng Điền, Phong Điền, Tràng Vinh, tổng tài nguyên dự báo là 38.779.027 tấn, trong đó cấp C2 = 8.888.293 tấn, song đáng chú ý và có ý nghĩa hơn cả là cát thuỷ tinh ở huyện Phong Điền. Cát thuỷ tinh có thành phần chủ yếu là cát thạch anh màu trắng, trắng tinh (từ dân gian thường gọi là cát trắng), độ hạt nhỏ, đều. Tại huyện Phong Điền, cát thuỷ tinh phân bố ở 2 xã Phong Hoà và Điền Hoà.

Felspat còn gọi là trường thạch, là nguyên liệu chiếm tỷ lệ từ 15 - 30% trong sản xuất sứ gốm. Felspat có vai trò hạ thấp nhưng mở rộng khoảng nhiệt độ nung của sứ làm cho sản phẩm ít bị biến hình, đồng thời làm cho sứ có độ trong, độ bóng và tăng khả năng bám men. Felspat còn làm cho xương sứ gốm khi nóng chảy có khả năng hoà tan thạch anh, kaolin và các tạp chất khác, giúp cho sản phẩm giảm rạn nứt khi nguội. Felspat chủ yếu được lấy từ đá ap lit và đá pegmatit. Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế đã phát hiện được các điểm áp lít chứa felspat phân bố ở các huyện A Lưới, Hương Trà, dọc theo đường quốc lộ 49 và đường Hồ Chí Minh. Felspat có chất lượng tốt, quy mô khá lớn, điều kiện giao thông thuận lợi.

Kaolin là một dạng của sét, chủ yếu gồm các khoáng vật thuộc nhóm kaolinit, hạt mịn dưới 0,01mm, lúc nung trở nên trắng. Quyết định chất lượng và khả năng sử dụng của kaolin là thành phần hoá học và đặc tính lý học như màu trắng, độ dẻo, độ chịu lửa, độ hạt, mất khi nung,.... Sét gốm ngoài thành phần khoáng vật nhóm kaolinit, còn các khoáng vật nhóm sét khác nên chúng có độ dẻo tốt hơn. Kaolin, sét gốm sứ được sử dụng nhiều nhất trong sản xuất gạch ceramic, gạch granit; loại sét gốm có thể dùng để sản xuất ngói lợp mỏng, gạch ốp trang trí, các sản phẩm sứ vệ sinh… Trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, nguồn thông tin cho đến nay đã có 5 mỏ kaolin gồm Văn Xá, Ấp Lai Bằng, Tà Re - A Ngo, La Dứt và Bốt Đỏ; 7 điểm khoáng kaolin: Khánh Mỹ (Phong Điền), Nguyệt Biểu (TP. Huế), Bình Điền (Hương Trà), Peke, Hồng Vân, Phú Vinh, A Sầu (A Lưới) và nhiều điểm sét gốm sứ.

Trên địa bàn Thừa Thiên Huế, các đá magma có diện phân bố khoảng hơn 1.000 km2, trong đó các đá thuộc phức hệ Hải Vân, Bà Nà có khả năng làm đá xây dựng và đá ốp lát. Các đá magma có khả năng làm đá xây dựng và ốp lát phân bố nhiều nơi, nhưng tập trung thành các khối lớn là: Khe Băng (Phong Sơn, Phong Điền), Bình Điền, Bến Tuần (Hương Trà), Núi Vôi (Hương Thuỷ), Hải Vân (khu vực đèo Hải Vân). Ngoài mỏ ốp lát gabro Phú Lộc đã được đánh giá tiềm năng và xác định là loại đá ốp lát chất lượng tốt, các khối còn lại do mức độ điều tra còn sơ lược nên việc xác định đá có khả năng làm đá xây dựng hay đá ốp lát còn mang tính định tính.

TS. Bùi Thắng

 

[ In trang ]    [ Đóng lại ]