Ứng dụng các kỹ thuật xạ phẫu định vị bằng máy gia tốc tuyến tính tại Bệnh viện Trung ương Huế.

Giải Nhì Tỉnh

Lĩnh vực: Y - Dược
Hoạt động: Hội thi Sáng tạo Kỹ thuật
Năm: 2019
Lượt xem: 73

 

Tính mới của giải pháp


Cuối những năm 80 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu Thụy Điển và Nhật Bản đã thử xạ trị định vị với phác đồ giảm số phân liều cho một số ung thư phổi, gan và một số bướu ngoài sọ não. Và đến đầu những năm 90, kỹ thuật này được chính thức áp dụng tại viện Karolinska, Thụy Điển. Cho đến nay, trên thế giới kỹ thuật này đã được thừa nhận rộng rãi và thực hiện trên các máy Cyberknife, Gamma knife, Tomotherapy, Proton và những máy gia tốc hiện đại. Tại Việt Nam, kỹ thuật xạ phẫu cho các khối u não và xạ phẫu định vị thân đã được một số cơ sở áp dụng trên các hệ thống máy Gammaknife và Ciberknife nhưng trên máy xạ trị gia tốc thẳng thì chưa có cơ sở nào thực hiện, do chưa có những máy móc và trang thiết bị đồng bộ. Tại Trung tâm Ung bướu Bệnh viện Trung ương Huế, máy xạ trị gia tốc thẳng AXESSE- Elekta được đưa vào sử dụng từ năm 2015 là một máy xạ trị hiện đại, cho phép tích hợp nhiều tính năng kỹ thuật trong cùng một hệ thống, như hệ thống Cone Beam CT giúp kiểm soát được hình ảnh thật của khối u ngay tại thời điểm chiếu xạ, đối chiếu với hình ảnh khối u lúc mô phỏng; máy có nhiều mức năng lượng khác nhau thích hợp cho từng loại và vị trí khối u; hệ thống robot điều chỉnh các vị trí của bệnh nhân thích hợp để chùm tia đến khối u gần nhất, hiệu quả nhất; phần mềm xử lý hình ảnh nối kết các hệ thống hình ảnh mô phỏng của bệnh nhân, tích hợp vào máy để lập kế hoạch xạ trị, đặc biệt là một bộ chuẩn trực đa lá (multileaf colliamator- MLC) cho phép điều chỉnh chùm tia phù hợp với từng thể tích khối u chuyên biệt. Những tính năng ưu việt đó của máy xạ trị gia tốc đã làm cho Bệnh viện Trung ương Huế trở thành cơ sở đầu tiên trong cả nước triển khai thành công các kỹ thuật xạ trị tiên tiến nói chung và kỹ thuật SBRT/ SRS nói riêng trên máy gia tốc thẳng AXESSE - ELEKTA dưới sự hướng dẫn hình ảnh (IGRT).


Ứng dụng thực tiễn


Với kỹ thuật này chúng tôi sử dụng kỹ thuật xạ trị hình cung điều biến liều theo thể tích khối u (VMAT), là kỹ thuật sử dụng quy trình lập kế hoạch nghịch đảo (inverse planning) bởi thuật toán Monte Carlo. Sau khi lựa chọn các thông số về liều lượng, cung quay của chùm tia thì sự phân bố liều lượng cụ thể của các chùm tia nguyên tố tương ứng sẽ được thực hiện qua phần mềm máy tính. Các thuật toán được thực hiện qua nguyên lý tích chập.Vì chuyển động của các MLC và thân máy quay quanh bệnh nhân liên tục nên có thể tạo ra những chùm tia với kích thước tuỳ ý. Trong quá trình lập kế hoạch phải đảm bảo đạt liều lượng tối ưu tại thể tích khối u, bao gồm thể tích bia lâm sàng (CTV), thể tích bia lập kế hoạch (PTV) đồng thời giảm liều chiếu các tổ chức lành xung quanh. Từ những bước triển khai ban đầu, đến nay chúng tôi đã làm chủ kỹ thuật và thực hiện thường quy trong xạ trị các khối u ở phổi, gan và sọ não. SRS là phương pháp can thiệp không xâm nhập, điều trị u não và một số bệnh lý sọ não như: u não nguyên phát (các u màng não, u màng não thất, u nguyên bào tủy, u tế bào thần kinh đệm,…), u não thứ phát (di căn), u dây thần kinh số VIII, dị dạng mạch máu não (AVM), u máu thể hang trong não, u tuyến yên, u tuyến tùng, u sọ hầu, lymphoma... SBRT áp dụng cho các khối u vùng thân như ở gan, phổi, thực quản, ổ bụng, v.v… Kỹ thuật SRS/SBRT đặc biệt hiệu quả khi điều trị cho những tổn thương nằm ở vị trí sâu, khó, phức tạp trong sọ não (như thân não…) và các khối u ở gan, phổi, thận (thường là các khối u di căn)… mà phẫu thuật mổ mở khó hoặc không thể thực hiện được vì nhiều lý do khác nhau. Nếu không có kỹ thuật SRS/SBRT như một liệu pháp điều trị thay thế, những bệnh nhân này sẽ rất ít hoặc không còn cơ hội điều trị và tỷ lệ tử vong tăng cao. Mặt khác kỹ thuật SRS/SBRT được chứng minh là một phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả, thời gian nằm viện ngắn, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân được nâng cao.


Hiệu quả kinh tế - xã hội


- Hiệu quả của phương pháp SRS/SBRT thay thế phẫu thuật nên không gây ra các biến chứng phẫu thuật có thể có như nhiễm trùng, chảy máu… - Giá thành của kỹ thuật này hiện nay tại Việt Nam là gần 30 triệu đồng, trong khi ở nước ngoài là khoảng 25.000 USD. Thực tế sau khi triển khai kỹ thuật tại Huế, nhiều bệnh nhân Việt Nam đã không còn ra nước ngoài điều trị, tiết kiệm được phần lớn chi phí, góp phần thành công cho dự án 'Dây rút ngược” theo chủ trương của Bộ Y tế. - Qua 113 trường hợp điều trị thành công trong thời gian qua, xạ phẫu SRS/SBRT đã chứng minh đây là hướng điều trị an toàn, có ý nghĩa thiết thực, đem lại hiệu quả triển khai ứng dụng năng lượng bức xạ trong lĩnh vực y học nói riêng và kinh tế quốc dân nói chung.